Việc phát hiện ra vàng là một sự kiện khá đặc biệt trong đời sống hàng ngày. Câu hỏi xuất hiện là liệu khi đào ra vàng ở không thuộc quyền sở hữu của mình, có cần phải nộp lại cho Nhà nước hay không? Hãy đón đọc bài viết dưới để hiểu hơn về vấn đề này.

1. Vàng đào được là tài sản vô chủ

Khi lượng vàng đào được không có chủ thì do vàng là một dạng động sản, người đã phát hiện hoặc đang quản lý tài sản vô chủ sẽ có quyền sở hữu tài sản này, trừ khi có quy định khác theo luật (theo Điều 228 Bộ luật Dân sự năm 2015).

đào ra vàng vô chủ

Tuy nhiên, trước khi đó, người đào được vàng phải thực hiện những bước sau:

  • Thực hiện thông báo hoặc giao nộp cho Ủy ban nhân dân (UBND) cấp xã hoặc Công an cấp xã tại địa phương gần nhất để thực hiện công bố công khai. Quá trình giao nộp cần được lập thành văn bản.
  • Cơ quan tiếp nhận giao nộp có trách nhiệm thông báo cho người phát hiện về kết quả xác định chủ sở hữu.

Và người phát hiện số vàng sẽ được sở hữu nếu sau 01 năm kể từ ngày thông báo mà không xác định được chủ sở hữu. Trong trường hợp tài sản là bất động sản, Nhà nước chỉ có quyền sở hữu nếu sau thời gian 05 năm kể từ ngày công bố mà không xác định được chủ sở hữu.

>>> Xem thêm tại: Cầm cố tài sản hình thành trong tương lai có được phép không?

Do đó, khi đào được vàng, người đào không cần phải nộp cho Nhà nước, nhưng người này cũng không được sở hữu ngay số vàng đó. Người đào phải thực hiện thông báo công khai và chỉ sau 01 năm, nếu không xác định được chủ sở hữu, họ mới có quyền sở hữu số vàng đào được.

2. Vàng đào ra là tài sản bị chôn, giấu, bị vùi lấp, chìm đắm

Theo Điều 229 Bộ luật Dân sự năm 2015, khi người phát hiện vàng bị chôn, giấu, vùi lấp, hoặc chìm đắm, họ phải thực hiện thông báo hoặc giao nộp cho UBND cấp xã, cơ quan công an cấp xã gần nhất, hoặc cơ quan nhà nước khác. Quyền sở hữu được xác định dựa vào loại tài sản như sau:

Vàng đào ra là tài sản bị chôn

Không thuộc di tích lịch sử – văn hóa: Quyết định về quyền sở hữu sẽ được xác định theo quy định của pháp luật, sau khi thông báo và quá trình xác minh đã được thực hiện.

  • Nếu giá trị của vàng đào được là nhỏ hơn hoặc bằng 10 lần mức lương cơ sở (hiện tại là 18,0 triệu đồng), thì quyền sở hữu thuộc về người tìm thấy.
  • Nếu giá trị của vàng đào được lớn hơn 10 lần mức lương cơ sở, người tìm thấy sẽ được nhận một số tiền bằng 10 lần mức lương cơ sở và 50% giá trị vượt quá 10 lần mức lương cơ sở. Phần còn lại của giá trị thuộc về Nhà nước.
Xem thêm:  Chính sách mới về thuế áp dụng từ ngày 01/01/2024

3. Đào ra vàng là tài sản do người khác đánh rơi, bỏ quên

Nếu người tìm thấy vàng không xác định được chủ sở hữu, theo quy định của Điều 230 Bộ luật Dân sự, tài sản sẽ được giải quyết theo các quy định sau đây:

– Nếu có thông tin địa chỉ của người đánh rơi/bỏ quên: Thông báo và trả lại tài sản cho người đó.

>>> Xem thêm tại: Phân biệt giống và khác nhau giữa chứng thực và công chứng?

– Nếu không biết địa chỉ của người đánh rơi/bỏ quên: Thông báo và giao nộp cho UBND cấp xã/công an cấp xã nơi gần nhất để tiến hành thông báo công khai. Sau 01 năm kể từ ngày thông báo mà không xác định được chủ sở hữu, tài sản bỏ quên/đánh rơi sẽ được xử lý như sau:

+ Số vàng có giá trị nhỏ hơn hoặc bằng 10 lần mức lương cơ sở sẽ trở thành tài sản thuộc quyền sở hữu của người nhận được.

+ Trong trường hợp số vàng có giá trị lớn hơn 10 lần mức lương cơ sở, người nhặt được sẽ được hưởng 10 lần mức lương cơ sở và 50% giá trị của phần vượt quá 10 lần mức lương cơ sở, phần còn lại sẽ thuộc về Nhà nước sau khi đã trừ đi chi phí bảo quản.

+ Nếu số vàng là di tích lịch sử – văn hóa, nó sẽ thuộc về Nhà nước, và người nhặt được sẽ được hưởng tiền thưởng.

Trong một số trường hợp, vàng đều được xem là động sản, và không phải mọi trường hợp đều thuộc về Nhà nước. Chỉ khi giá trị của số vàng đó vượt quá 10 lần mức lương cơ sở hoặc nó là di tích lịch sử – văn hóa, thì mới thuộc sở hữu của Nhà nước.

>>> Xem thêm tại: Cách tìm đối tác hợp tác kinh doanh dài lâu trong dịp cận Tết.

Trên đây là bài viết giải đáp về câu hỏi Đào được vàng có phải nộp cho Nhà nước không? Ngoài ra, nếu như bạn đọc còn thắc mắc gì liên quan đến nội dung trên hoặc cần tư vấn các vấn đề pháp lý khác về công chứng và sổ đỏ, xin vui lòng liên hệ theo thông tin:

Xem thêm:  Người chưa thành niên gồm những ai theo Bộ luật Dân sự?

VĂN PHÒNG CÔNG CHỨNG NGUYỄN HUỆ

1. Công chứng viên kiêm Trưởng Văn phòng Nguyễn Thị Huệ: Cử nhân luật, cán bộ cấp cao, đã có 31 năm làm công tác pháp luật, có kinh nghiệm trong lĩnh vực quản lý nhà nước về công chứng, hộ tịch, quốc tịch. Trong đó có 7 năm trực tiếp làm công chứng và lãnh đạo Phòng Công chứng.

2. Công chứng viên Nguyễn Thị Thủy: Thẩm Phán ngành Tòa án Hà Nội với kinh nghiệm công tác pháp luật 30 năm trong ngành Tòa án, trong đó 20 năm ở cương vị Thẩm Phán.

Ngoài ra, chúng tôi có đội ngũ cán bộ nghiệp vụ năng động, nhiệt tình, có trình độ chuyên môn cao và tận tụy trong công việc.

VĂN PHÒNG CÔNG CHỨNG NGUYỄN HUỆ

Địa chỉ: 165 Giảng Võ, phường Cát Linh, quận Đống Đa, Hà Nội

Hotline : 0966.22.7979 – 0935.669.66

XEM THÊM TỪ KHÓA:

>>> Những rủi ro gia chủ cần biết khi làm công chứng ủy quyền định đoạt.

>>> Mức phí công chứng mua bán căn hộ chung cư hiện nay là bao nhiêu?

>>> Di chúc miệng được coi là di chúc hợp pháp trong trường hợp như thế nào?

>>> Hiện nay công chứng bằng tốt nghiệp có mức phí là bao nhiêu? Có đắt không?

>>> Hướng dẫn chi tiết quy trình thực hiện thủ tục công chứng giấy ủy quyền năm 2024.

Đánh giá

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *