Người bị “ngáo đá” thường có những biểu hiện tương tự như người mắc bệnh rối loạn tâm thần, thậm chí trong nhiều trường hợp còn nguy hiểm hơn do mất kiểm soát hành vi, xuất hiện hoang tưởng hoặc ảo giác mạnh. Vậy nếu thực hiện hành vi phạm tội trong trạng thái “ngáo đá” thì có bị xử lý hình sự hay không? Để giải đáp thắc mắc này, hãy cùng Văn phòng công chứng Nguyễn Huệ tìm hiểu thông tin qua bài viết dưới đây nhé.

>>> Xem thêm: Tại Hà Nội, có văn phòng công chứng nào hỗ trợ làm dịch vụ sổ đỏ trọn gói ngoài giờ hành chính không?

1. Phạm tội khi ngáo đá có phải chịu trách nhiệm hình sự không?

“Ngáo đá” là cách gọi phổ biến để chỉ trạng thái rối loạn tâm thần tạm thời do sử dụng ma túy đá. Người sử dụng thường xuất hiện các triệu chứng như hoang tưởng, ảo giác, kích động mạnh, mất kiểm soát hành vi hoặc có xu hướng thực hiện các hành động nguy hiểm cho bản thân và người khác.

Xét dưới góc độ pháp lý, tình trạng ngáo đá phát sinh từ việc cá nhân tự ý, có chủ đích sử dụng chất ma túy. Vì vậy, pháp luật không xem đây là bệnh lý tâm thần tự nhiên và cũng không phải căn cứ để xác định một người mất năng lực hành vi dân sự hoặc miễn trách nhiệm đối với hành vi vi phạm pháp luật.

Phạm tội khi ngáo đá

Điều 13 Bộ luật Hình sự 2015 quy định, người phạm tội trong tình trạng mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi do sử dụng rượu, bia hoặc các chất kích thích mạnh khác vẫn phải chịu trách nhiệm hình sự.

Như vậy, dù phạm tội trong lúc “ngáo đá”, người thực hiện hành vi vi phạm pháp luật vẫn có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định hiện hành.

2. Phạm tội khi ngáo đá là tình tiết giảm nhẹ hay tăng nặng trách nhiệm hình sự?

Từ khi ma túy đá xuất hiện tại Việt Nam, đã xảy ra không ít vụ án nghiêm trọng mà đối tượng gây án thực hiện hành vi trong trạng thái bị ảnh hưởng bởi chất kích thích mạnh.

Mặc dù người bị “ngáo đá” thường có biểu hiện tương tự người mắc bệnh tâm thần phân liệt như hoang tưởng, mất kiểm soát hoặc hành động bất thường, nhưng pháp luật hiện nay không coi đây là căn cứ để được giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.

>>> Xem thêm: Phí công chứng văn bản chấm dứt hợp đồng mua bán nhà được tính thế nào?

Theo quy định tại Điều 51 và Điều 52 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), tình trạng rối loạn tâm thần do sử dụng ma túy đá, thuốc lắc hoặc các chất kích thích mạnh khác không thuộc nhóm tình tiết giảm nhẹ cũng không được xác định là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Phạm tội khi ngáo đá

Tuy nhiên, trong một số tội danh liên quan đến giao thông, việc sử dụng ma túy hoặc chất kích thích mạnh lại được xem là tình tiết định khung làm tăng mức xử lý hình sự, điển hình như:

  • Điểm b khoản 2 Điều 260 Bộ luật Hình sự về Tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ;
  • Điểm b khoản 2 Điều 267 Bộ luật Hình sự về Tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường sắt;
  • Điểm b khoản 2 Điều 272 Bộ luật Hình sự về Tội vi phạm quy định về giao thông đường thủy.

3. Sử dụng ma túy đá bị xử lý như thế nào?

Theo quy định của Bộ luật Hình sự 2015, hành vi sử dụng trái phép chất ma túy hiện không nằm trong nhóm hành vi bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Nói cách khác, cá nhân chỉ sử dụng ma túy trái phép sẽ không bị xử lý hình sự.

Dù vậy, sử dụng ma túy vẫn là hành vi vi phạm pháp luật và người thực hiện có thể bị xử phạt vi phạm hành chính theo quy định hiện hành.

Cụ thể, người sử dụng trái phép chất ma túy có thể bị xử phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 500.000 đồng đến 01 triệu đồng.

Ngoài hình thức xử phạt tiền, tang vật hoặc phương tiện được sử dụng để thực hiện hành vi vi phạm cũng có thể bị tịch thu theo quy định.

Đối với người nước ngoài sử dụng trái phép chất ma túy tại Việt Nam, tùy mức độ vi phạm còn có thể bị xem xét áp dụng hình thức xử phạt trục xuất khỏi lãnh thổ Việt Nam.

(Căn cứ Điều 21 Nghị định 167/2013/NĐ-CP)

4. Sử dụng ma túy đá có bị đưa đi cai nghiện bắt buộc không?

Điều 95 Luật Xử lý vi phạm hành chính 2012 quy định, biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là hình thức xử lý hành chính áp dụng với người nghiện ma túy nhằm mục đích chữa bệnh, lao động, học văn hóa và học nghề dưới sự quản lý của cơ sở cai nghiện.

Thời hạn áp dụng biện pháp này kéo dài từ 12 tháng đến 24 tháng tùy từng trường hợp cụ thể.

Theo Điều 96 Luật Xử lý vi phạm hành chính, đối tượng bị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là người nghiện ma túy từ đủ 18 tuổi trở lên, đã từng bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn nhưng vẫn tiếp tục nghiện hoặc chưa áp dụng biện pháp này nhưng không có nơi cư trú ổn định.

Tuy nhiên, pháp luật cũng quy định một số trường hợp không áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, bao gồm:

  • Người không có năng lực trách nhiệm hành chính;
  • Phụ nữ đang mang thai có xác nhận của cơ sở y tế;
  • Phụ nữ hoặc người duy nhất đang trực tiếp nuôi con dưới 36 tháng tuổi có xác nhận của UBND cấp xã nơi cư trú.

Do đó, nếu đáp ứng đầy đủ các điều kiện theo luật định, người sử dụng ma túy đá hoàn toàn có thể bị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.

>>> Xem thêm: Dự kiến từ ngày 1/1/2025, có thể kiểm tra Sổ đỏ thật giả bằng mã QR?

Trên đây là giải đáp của chúng tôi về vấn đề “Phạm tội khi ngáo đá có phải chịu trách nhiệm hình sự không?”. Ngoài ra, nếu có bất kỳ thắc mắc nào hoặc cần hỗ trợ pháp lý, quý khách vui lòng liên hệ trực tiếp với Văn phòng công chứng Nguyễn Huệ theo thông tin:

VĂN PHÒNG CÔNG CHỨNG NGUYỄN HUỆ

Miễn phí dịch vụ công chứng tại nhà

VPCC Nguyễn Huệ được thành lập từ ngày 03/10/2012, có địa chỉ trụ sở tại số 165 Giảng Võ, phường Ô Chợ Dừa, thành phố Hà Nội dưới sự điều hành của các Công chứng viên có trình độ và bề dày thành tích trong ngành pháp luật cũng như trong lĩnh vực công chứng:

  1. Công chứng viên kiêm Trưởng Văn phòng Nguyễn Thị Huệ: Cử nhân Luật, cán bộ cấp cao, đã có 31 năm làm công tác pháp luật, có kinh nghiệm trong lĩnh vực quản lý nhà nước về công chứng, hộ tịch, quốc tịch. Trong đó có 7 năm trực tiếp làm công chứng và lãnh đạo Phòng Công chứng.
  2. Công chứng viên Nguyễn Thị Thủy: Thẩm Phán ngành Tòa án Hà Nội với kinh nghiệm công tác pháp luật 30 năm trong ngành Tòa án, trong đó 20 năm ở cương vị Thẩm Phán.
  3. Công chứng viên Chu Cảnh Hưng: Đã từng làm 10 năm Viện phó viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh. Trưởng văn phòng công chứng Chu Cảnh Hưng.
  4. Công chứng viên Nguyễn Thị Kim Thanh: Là Luật sư, nguyên Trưởng Văn phòng công chứng tại Bắc Ninh với nhiều năm kinh nghiệm quản lý và điều hành nghiệp vụ. Chuyên gia dày dạn trong việc thẩm định hồ sơ pháp lý, giải quyết những hồ sơ khó và phức tạp một cách chuẩn xác nhất.
  5. Xem thêm…
  • Địa chỉ: 165 Giảng Võ, phường Ô Chợ Dừa, Hà Nội
  • Hotline: 0966.22.7979
  • Email: ccnguyenhue165@gmail.com

XEM THÊM CÁC TỪ KHÓA TÌM KIẾM:

>>> Công chứng văn bản chấm dứt hợp đồng mua bán nhà đất được thực hiện thế nào?

>>> Thủ tục làm sổ đỏ lần đầu năm 2026: Giấy tờ, chi phí bao nhiêu?

>>> Công chứng thừa kế có cần có mặt tất cả các đồng thừa kế không?

>>> Khi nào được công chứng tại nhà? Chi phí công chứng là bao nhiêu?

>>> Tại sao sơ yếu lý lịch lại quan trọng?

>>> Phụ nữ mang thai được tạm hoãn chấp hành án phạt tù không?